Lương Văn Can – Người chỉ đường cho giới Doanh nhân

Lương Văn Can hiệu là Ôn Như. Ông sinh năm Gián Dần (1854), trong một gia đình nghèo, mấy đời mưu sinh bằng nghề nông và nghề tiện gỗ ở một làng nghề thủ công truyền thống nổi tiếng của xã Nhị Khê, huyện Thượng Phúc, phủ Thường Tín, tỉnh Hà Nội (nay là xã Nhị Khê, huyện Thường Tín, thành phố Hà Nội). Nhưng vì quý trọng sự học, thân phụ của ông đã cầm cố cả ruộng đất để các con theo đuổi bút nghiên.

Ở tuổi thiếu niên, Lương Văn Can theo học trường của ba ông tú ở trong làng, trong đó có ông Tú Liêm, người có những ảnh hưởng nhất định đến nhân cách Lương Văn Can. Ngoài ra, ông còn được theo học trường của cụ Nguyễn Huy Đức (tự Thành Phủ, 1824-1898) ở xã Vũ Thạch, huyện Thọ Xương, phủ Hoài Đức nay là khu vực phố Tràng Thi, quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội. Sự khảng khái và phẩm hạnh của người thầy đặc biệt này đã ảnh hưởng rõ rệt đến sự lựa chọn nghề nghiệp và con đường đi sau này của ông. Sau khi đỗ cử nhân (1874) rồi đi thi Hội vào đến nhị trường (1875), Lương Văn Can được bổ làm Giáo thụ phủ Hoài Đức nhưng ông đã khước từ, ở nhà mở trường dạy học.

Sau đó, ông còn khước từ chức Uỷ viên Hội đồng Thị chính thành phố Hà Nội, một cơ quan đại nghị do chính quyền thực dân thành lập mà lúc đầu ông cũng có ý tận dụng cơ hội này để giúp nước nhưng hóa ra cũng chỉ là cơ quan bù nhìn do thực dân dựng lên. Trong giới sĩ phu Hà Thành, Lương Văn Can là người đặc biệt có uy tín về nhân cách và học vấn. Ông có khả năng tập hợp lực lượng này. Vì vậy khi có chủ trương đẩy mạnh Phong trào Duy Tân ở Hà Nội, Phan Châu Trinh đã gặp ông để bàn bạc và thành lập trường Đông Kinh Nghĩa Thục. Ngoài các hoạt động của phong trào Duy Tân, Lương Văn Can còn tích cực tham gia phong trào Đông Du của Phan Bội Châu.

Đầu thế kỷ XX, nền kinh tế nước ta còn vô cùng lạc hậu, thương nghiệp kém phát triển. Với cương vị là thục trưởng trường Đông Kinh Nghĩa Thục, bên cạnh việc mở mang giáo dục, Lương Văn Can đã khuyến khích phát động phong trào chấn hưng công thương ở Hà Nội, tạo nên một phong trào làm giàu khá sôi nổi. Vượt qua suy nghĩ cố hữu của một dân tộc vốn nghìn đời coi thường chuyện buôn bán và cả ý thức hệ của giai cấp mình, ông cùng với các nhà Nho Duy tân đã một mặt phát triển lý luận phát triển thương nghiệp, một mặt đứng ra chủ trương mở các hội buôn khắp các phố phường và dọc các miền đất nước.

Bản thân ông sau này cũng trở thành một doanh nhân (mặc dù thông thường ông được biết đến như một nhà giáo dục) khi đã trực tiếp chỉ đạo việc kinh doanh của gia đình và đặc biệt đã nâng những kinh nghiệm thực tiễn trong buôn bán thành lý luận kinh tế thương mại. Năm 1913, sau hai vụ đánh bom của Việt Nam Quang phục Hội, chính quyền thực dân đã bắt giữ và giam cầm đến 254 người, trong đó có Lương Văn Can vì biết có thời gian ông đã chi viện nhân lực và tài chính cho Phan Bội Châu. Ông đã bị án lưu đày 10 năm tại Nam Vang (Phnompênh, Campuchia). Cùng đi với ông có người con trai út Lương Ngọc Môn (1898-1924) khi ấy mới 15 tuổi. Đến năm 1916 thì người con gái thứ bảy của ông là Lương Thị Trí (1893-?) cũng sang để chăm sóc cha già.

Năm 1917, Nguyễn Thị Hồng Đính (1889 -1950), con dâu ông (vợ Lương Ngọc Quyến) đã rời Trung Quốc sang Nam Vang để phụng dưỡng cha chồng. Theo quy định của bản án, Lương Văn Can và gia đình phải tự lo sinh kế, ông đã cùng gia đình buôn bán, lập nghiệp nơi xứ người, mở đường cho sự nghiệp buôn bán xuyên quốc gia. Sau khi tìm hiểu thị trường, ông thấy Nam Vang rất thích hợp để mang hàng hoá từ Việt Nam sang. Ông thuê nhà trên đường An Dương ở thành phố Nam Vang, mở hiệu buôn Đại Thanh giao cho Lương Thị Trí và Lương Ngọc Môn quản lý. Cách đó không xa, ông mướn nhà trên đường Quai Piquet, mở hiệu buôn Hưng Thạnh cho Nguyễn Thị Hồng Đính trông nom. Theo sự chỉ đạo của ông, mọi người phân công đi tìm hiểu, tiếp cận thị trường rồi đánh điện tín về Hà Nội và Sài Gòn liên hệ với bà Cử Can ở Hà Nội và các thương gia trong nước để đặt hàng đưa sang Nam Vang, từ đó thiết lập một đường dây thương mại bí mật xuyên biên giới. Việc buôn bán phát đạt rất nhanh.

Riêng Hưng Thạnh đã phát triển thành một hiệu buôn lớn với quy mô khá lớn, vừa sản xuất vừa kinh doanh. Tầng trệt của ngôi nhà bán hàng tấm và tạp hoá, tầng trên đóng giày và làm mũ. Ở Hưng Thạnh thường xuyên có từ 13 đến 14 công nhân là những con cháu của Nguyễn Mậu Kiến và Án sát Nguyễn Ngọc Tương, chí sĩ Cần Vương, do bà Nguyễn Thị Hồng Đính đưa sang. Nhờ đó, Lương Văn Can và các con đã có một nguồn tài chính dồi dào để trợ giúp các chiến sĩ cách mạng Việt Nam cũng như đặt mua các tài liệu cách mạng từ nước ngoài vào như Việt Nam nghĩa liệt sử do Đặng Đoàn Bằng soạn thảo, Phan Thị Hán tức Phan Bội Châu hiệu đính, Trung Quốc hồn và Ẩm Băng Thất văn tập của Lương Khải Siêu.

Ngày 23/12/1921, sau hơn 8 năm tù đày, Lương Văn Can đã về nước nhưng đường lối kinh doanh nhằm mục đích cứu nước giúp dân của ông vẫn được người con dâu Nguyễn Thị Hồng Đính tiếp tục ở Nam Vang cho đến năm 1931.

Trong thời gian bị lưu đầy, ông đã không bỏ phí một ngày nào, vẫn luôn cống hiến cho đất nước, cho dân tộc theo cách của mình. Ở nơi xứ người, ông một mặt chỉ đạo con cháu buôn bán mặt khác biên soạn sách vở như các tác phẩm Gia huấn, một bộ Hán học tiệp kính, Hán tự quốc âm và đặc biệt là hai tác phẩm có lẽ cũng được ông soạn thảo trong thời gian này là Thương học phương châm và Kim cổ cách ngôn.

Bắng sự nhận xét tinh tế và xác thực, ông đã chỉ ra 10 điều làm cho nền thương mại nước nhà không thể phát triển được. Đó là:

1. Người mình không có thương phẩm
2. Không có thương hội: cách thức lập hội chưa thạo, kẻ gian quyệt mượn tiếng lập hộ làm kế vơ vét, thành ra thương hội chưa lập đã vỡ, cổ phần chưa họp đã tan.
3. Không có chữ tín: cái ám muội của nhà buôn ta không thể nào tả hết được, chỉ xem ngạn ngữ ta rằng ‘thực thà cũng thể lái buôn’ thời đủ biết đức tính của nhà buôn vậy. Chính bởi cái lòng không tín thực ấy mà làm cho hàng hóa ta không thể nào bán mạnh bằng hàng các nước được.
4. Không có kiên tâm
5. Không có nghị lực: chí khí đã nhút nhát, tư tưởng lại hẹp hòi.
6. Không biết trọng nghề
7. Không có thương học: không có kế đào tạo cho các học sinh có đủ tư cách làm nghề buôn
8. Kém đường giao thiệp: xem như nhiều nước đều có học tiếng Anh là tiếng nói vạn quốc thông dụng để đi đến nước nào nói năng cũng được tiện lợi và in những sách chiêu hàng phân phát cho người yêu dùng…
9. Không biết tiết kiệm: làm ít tiêu nhiều, dư dật được tí nào đều bị cái phong trào xa xỉ nó cuốn đi cả. Bởi thế nên nhiều người tháng sau cáo cùng mà tháng trước vẫn diện ô tô song mã, lắm nhà ngày mai tích ký mà vẫn bày châu báu ngọc ngà, thật là chỉ choáng bề ngoài mà xấu bề trong, tốt bộ vỏ mà không có ruột. Trách nào vốn liếng mỗi ngày chẳng kém, sinh kế ngày càng quẫn bách.
10. Khinh nội hóa: “Khiến cho quyền lợi mất cả ra ngoài, trách nào nghề buôn mình chả kém các nước”

Trong giới thương nhân, Lương Văn Can được coi như người thầy trên cả thực tiễn và lý thuyết. Ông chính là người mở đường cho việc thông thương sang Campuchia vốn bị coi là nơi “rừng thiêng nước độc”. Ông là người vận dụng khai thác những khía cạnh văn hoá trong kinh doanh, đặt nền móng cho khoa học thương mại tại nước ta. Ông trở thành người thầy không chỉ trong Đông Kinh Nghĩa Thục mà còn là người thầy được cả giới thương nhân sau này vô cùng kính trọng.

Có thể nói, những đóng góp của ông đã đặt những viên gạch đầu tiên cho phong trào chấn hưng kinh tế, chủ trương phát triển thương nghiệp nước nhà. Không chỉ nêu tấm gương mà những bài học về kỹ thuật kinh doanh, đạo đức kinh doanh đã ảnh hưởng sâu sắc đến lớp thương nhân đầu tiên của chúng ta, những doanh nhân có ý chí tự chủ quyết đấu với ngoại bang trên thương trường như ông Bạch Thái Bưởi, hay một số doanh nhân nổi tiếng một thời cống hiến cho cách mạng như ông bà Trịnh Văn Bô, Đỗ Đình Thiện, Nguyễn Sơn Hà…mà còn là bài học cho hậu thế chúng ta noi theo.

Nguồn Báo Điện tử Văn hóa Doanh nhân

Bài này đã được đăng trong Danh Nhân Lương Văn Can. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

Phản hồi đã bị đóng.